Trụ sở: Phòng 315, tầng3, Số nhà 33, ngõ 30, phố Hoa Lâm, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Danh mục
Địa chỉ liên hệ


VPGD 1: Khu phố Đền Rồng, phường Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh.


VPGD 2: 236 Yết Kiêu, phường Hải Tân, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

      




Mail : luatanphu@gmail.com
Web : http://www.anphulaw.com.


0989 851 169.

0904 226 799.
Thị trường Bất Động Sản
© Đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội:
    a. Người công với cách mạng
    b. Cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng và đoàn thể hưởng lương từ ngân sách nhà nước nước
Thăm dò dư luận
Trong tình hình kinh tế căng thẳng như hiện nay, thu nhập hàng tháng của bạn bị ảnh thưởng như thế nào ?
Giảm sút mạnh
Có giảm đôi chút nhưng không đáng kể
Không bị ảnh hưởng !
Lượt truy cập
001769048
ĐỐI TÁC

Xây dựng quy trình quản trị danh mục đầu tư, điều cần làm với NDT nhỏ.
Cập nhật :Thứ tư, 23-12-2015
Nhiều nhà đầu tư cá nhân cho rằng việc xây dựng quy trình quản lý DMĐT là không cần thiết và không đáng để lưu tâm. Tuy vậy cá nhân Tôi lại thấy đây là vấn đề khá quan trọng và cần thiết với bất cứ nhà đầu tư nào. Bởi lẽ quản trị danh mục không hẳn chỉ là quản lý dòng tiền, mà nó bao hàm một kế hoạch chi tiết cho việc đem toàn bộ tài sản tích góp cả đời làm công ăn lương để đưa vào đầu tư. Như vậy thành quả của việc này thể hiện ở tỷ lệ lợi nhuận hay thất thoát, và thị trường thì không quan tâm bạn là ai. Thị trường sẳn lòng lấy hết toàn bộ gia tài của bạn chỉ trong vài phút nếu bạn thiếu kế hoạch bài bản cho việc sử dụng tiền đầu tư một cách cẩu thả

 

Ta hãy xem xét qua một  quy trình xây dựng và quản lý DMĐT mang tính khoa học hệ thống:

 

Thứ nhất, xây dựng mục tiêu đầu tư.
Xây dựng mục tiêu bao giờ cũng là khâu đầu tiên của một quá trình quản trị. Và quy trình xây dựng danh mục đầu tư cũng bắt đầu bằng việc xây dựng mục tiêu đầu tư. Mục tiêu đầu tư thường phải đề cập đến 3 yếu tố cơ bản như: yêu cầu về lợi nhuận, mức độ chấp nhận rủi ro và thời hạn thu hồi vốn. Ngoài ra, mục tiêu đầu tư còn có thể đề cập đến những hạn chế hay những ưu tiên trong hoạt động đầu tư. Mỗi nhà đầu tư dù là tổ chức hay cá nhân tùy theo những đặc thù, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mình có thể có những mục tiêu đầu tư rất khác nhau. Việc xây dựng mục tiêu đầu tư đóng vai trò rất quan trọng bởi vì: mục tiêu là cơ sở để xây dựng danh mục đầu tư, là cơ sở để điều chỉnh danh mục đầu tư và là căn cứ để đánh giá hiệu quả hoạt động của danh mục đầu tư.

 

Thứ hai, chính sách phân bổ tài sản (Asset Allocation) hợp lý:
Là quyết định tỉ lệ phân bổ ngân qũy đầu tư của nhà đầu tư  tổ chức hay cá nhân vào các loại tài sản đầu tư  chính như : tiền mặt và các công cụ tương đương tiền mặt, các công cụ thị trường tiền tệ, trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản…) để  đạt được các mục tiêu đầu tư đã đặt ra. Quyết định phân bổ tài sản là đặc biệt quan trọng, vì nó chi phối việc thực hiện của hầu hết toàn bộ danh mục đầu tư. Thậm chí có nhiều quan điểm cho rằng  việc phân bổ tài sản quyết định đến hơn 50% sự thành công hay thất bại của DMĐT.  

 

Thứ ba, lựa chọn chứng khoán (Security Selection) đầu tư:
Đây là công đoạn, trong đó nhà quản trị đầu tư phải sử dụng nhiều kỹ thuật, phương pháp và chiến lược khác nhau để lựa chọn các chứng khoán cụ thể vào DMĐT. Có thể nói đây là công đoạn cuối cùng trong quy trình xây dựng DMĐT. Nhưng đây là một công việc mang tính chất liên tục, nhà đầu tư không chỉ thực hiện lựa chọn chứng khoán 1 lần duy nhất trong tòan bộ quá trình đầu tư mà còn phải thường xuyên điều chỉnh DMĐT khi thị trường có những biến động hay đưa ra quyết định mua bán kịp thời khi phát hiện có những chứng khoán bị định giá sai.

 

Thứ tư, lựa chọn chiến lược quản lý danh mục đầu tư hiệu quả.

 

Trong mô hình này, việc lựa chọn chiến lược đầu tư xuất hiện với tư cách là một công đoạn độc lập trong quy trình xây dựng và quản lý DMĐT. Có quan điểm cho rằng nó thuộc công đoạn phân bổ tài sản, cũng có quan điểm cho rằng nó thuộc công đoạn lựa chọn chứng khoán. Tuy nhiên, dù là một công đoạn độc lập hay thuộc công đoạn nào thì việc lựa chọn chiến lược đầu tư  vẫn là một khâu quan trọng, nó là cầu nối truyền dẫn mục tiêu đầu tư và chính sách phân bổ tài sản đến công đoạn thực hiện cụ thể là lựa chọn chứng khoán. Nó là kim chỉ nan hướng dẫn quan trọng khi tiến hành xây dựng danh mục đầu tư và toàn bộ quá trình điều chỉnh danh mục đầu tư sau đó.

 

Hai chiến lược được nhắc tới phổ biến nhất là chiến lược quản lý DMĐT chủ động (Active Strategy) và chiến lược quản lý DMĐT  thụ  động (Passive Strategy) hay sự phối hợp giữa hai chiến lược này (Mix - Strategy).

 

Chiến lược quản lý DMĐT chủ động (Active Strategy):
Ngược lại với chiến lược thụ động, chiến lược chủ động luôn chú trọng sử dụng các chỉ số kinh tế, tài chính, cùng các công cụ khác nhau để đưa ra các dự báo về thị trường và định giá chứng khoán, từ đó mua bán chứng khoán một cách chủ động để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn so với việc chỉ mua và nắm giữ chứng khoán.

 

Chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động (Passive Strategy):
Chiến lược này được hiểu một cách đơn giản nhất là  chiến lược mua và nắm giữ (buy - and - hold), nhà đầu tư sẽ mua và nắm giữ chứng khoán trong một thời gian dài, trong suốt thời gian đó, họ hầu như không điều chỉnh hoặc chỉ điều chỉnh một cách tối thiểu danh mục đầu tư. Chiến lược thụ động được cổ vũ bởi lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis), họ cho rằng thị trường là hiệu quả, giá cả thị trường của các cổ phiếu luôn hợp lý, nó phản ánh một cách nhanh chóng tất cả thông tin liên quan đến cổ phiếu đó, thị trường là một cơ chế định giá hiệu quả và do đó không tồn tại các chứng khoán bị định giá sai. Do vậy, không cần phải bỏ công tìm kiếm các chứng khoán bị định giá sai và mua bán chứng khoán một cách chủ động. Các nhà đầu tư theo đuổi chiến lược thụ động thường đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm làm cho DMĐT của mình khớp với một chỉ số chứng khoán nào đó. Do vậy, chiến lược thụ động thường được gọi là chiến lược khớp chỉ số (Match - Index - Strategy). Chiến lược bị động thuần túy nhất chính là chiến lược khớp chỉ số một cách hoàn toàn. Theo chiến lược này  nhà đầu tư sẽ chọn một chỉ số chứng khoán nào đó làm chuẩn (Benchmark) chẳng hạn như chỉ số S&P 500. Họ mua và nắm giữ tất cả các chứng khoán có trong chỉ số với tỷ trọng của mỗi chứng khoán trong danh mục đầu tư giống như tỷ trọng của các chứng khoán đó trong chỉ số. Danh mục đầu tư của họ tăng giảm đúng bằng tốc độ tăng giảm của chỉ số S&P 500, nói cách khác, nó giống như bản photocopy thu nhỏ của chỉ số S&P 500.

 

Trên đây là cách hiểu cơ bản về hai chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động và thụ động. Tuy nhiên, để hiểu một cách có hệ thống về các chiến lược quản lý đầu tư khác nhau cũng như hai chiến lược thụ động và chủ động, chúng ta hãy xem xét sơ đồ biểu diễn mô hình các nhân tố tác động đến thu nhập và rủi ro của cổ phiếu.

Theo mô hình này, thu nhập của một loại cổ phiếu phụ thuộc:
(1) Tác động của toàn bộ thị trường.
(2) Yếu tố nhóm cổ phiếu/ yếu tố ngành.
(3) Yếu tố đặc thù của cổ phiếu đó.
Tương tự như vậy, rủi ro của một loại cổ phiếu phụ thuộc:
(1) Rủi ro thị trường.
(2) Rủi ro nhóm cổ phiếu/ rủi ro ngành.
(3) Rủi ro đặc thù của cổ phiếu.

 

Nhà đầu tư có thể theo đuổi các chiến lược khác nhau đối với ba nhân tố trên. Đối với hai chiến lược chủ động và thụ động, nhà đầu tư có thể theo đuổi chiến lược thụ động hoặc chủ động đối với từng yếu tố một hay kết hợp tất cả những yếu tố này. Những yếu tố của môi trường kinh tế như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất... hay cả yếu tố tâm lý chung của nhà đầu tư  có thể cùng tác động đến thị trường chứng khoán làm cho thị trường có những đợt tăng giảm trong ngắn hạn hoặc kéo dài theo chu kỳ. Trên thực tế, người ta thấy có một xu hướng là khi thị trường tăng thì phần lớn các loại cổ phiếu cũng có xu hướng cùng tăng và ngược lại, khi thị trường giảm thì phần lớn các loại cổ phiếu cũng có xu hướng giảm theo giống như  hình ảnh của “nước nổi thuyền nổi”. Sự tăng giảm của một chứng khoán riêng lẻ dường như có mối quan hệ mật thiết với sự tăng giảm của thị trường. Đây chính là phần thu nhập hệ thống và rủi ro hệ thống mà ta đã đề cập ở phần trước. Cần lưu ý một chút về khái niệm thị trường, thị trường ở đây là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ thị trường bao gồm tất cả các loại cổ phiếu  được giao dịch trong nền kinh tế.  Nhưng rõ ràng việc thống kê sự tăng giảm của tất cả các chứng khoán trên thị trường là điều không thể, do vậy, thị trường được đại diện và đo lường bằng các chỉ số chứng khoán (market index). Giống như nguyên tắc chọn mẫu trong thống kê: khi số lượng mẫu là đủ lớn, được lựa chọn hợp lý và mang tính chất tiêu biểu thì nó có thể đại diện cho toàn bộ tổng thể. Cũng giống như khi chỉ số chứng khoán có một số lượng cổ phiếu đủ lớn và gồm những công ty được lựa chọn hợp lý và tiêu biểu thì chỉ số đó có thể đại diện cho toàn bộ thị trường. Khi ta nói đến sự tăng giảm của thị trường, tức là nói đến sự tăng giảm của các chỉ số chứng khoán. Mỗi quốc gia đều có các chỉ số chứng khoán tiêu biểu. Tại Mỹ, các chỉ số chứng khoán tiêu biểu  thường được sử dụng như: DJIA (Dow\Jones Industrial Average), Value Line Composite Index, NYSE Composite Index, Russell 1000 Index…và đặc biệt là chỉ số Standard & Poor’s 500 Composite Index. Hầu hết các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường sử dụng một chỉ số chứng khoán tiêu biểu để làm chỉ số tham chiếu chuẩn cho danh mục đầu tư của mình.

Nguồn: LVT tổng hợp FIN.VN

Het Tien - 12/20/2015 9:50:39 AM

50% độ tin cậy
0% Đánh giá rất tốt
0%
0%
#2
Đây bổ sung cho bác nè
Phân loại quản lý danh mục đầu tư
Có nhiều vị trí đa dạng “dụng võ” nhà quản lý danh mục đầu tư. Những vị trí này tùy thuộc vào các tiêu chí sau đây:
1. Kích cỡ quỹ: Một nhà quản lý danh mục đầu tư có thể quản lý tài sản cho một quỹ độc lập tương đối nhỏ về vốn, hoặc định chế quản lý tài sản lớn. Nhà quản lý danh mục đầu tư có thể quản lý vốn của các thực thể kinh doanh lớn như ngân hàng, hoặc các tổ chức có lượng tiền tài trợ lớn như các trường cao đẳng, đại học.
2. Một nhà quản lý quản lý tài sản cho một định chế quản lý tiền lớn thường được gọi là nhà quản lý danh mục, trong khi những người quản lý các tài sản quỹ nhỏ hơn thường được gọi là nhà quản lý quỹ. Những người quản lý tài sản cho các tổ chức kinh doanh lớn hoặc các trường đại học thường được gọi là Giám đốc đầu tư (Chief Investment Officier – CIO).
3. Loại hình quỹ đầu tư: Tất cả các nhà quản lý tiền đều hoạt động vì mục đích quản lý tài sản cho các quỹ đầu tư, vốn rất đa dạng. Các quỹ này có thể là quỹ cá nhân hoặc quỹ hỗ tương, quỹ dành cho các định chế, các sản phẩm của quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ tín thác hoặc các công cụ đầu tư có giá trị cao và hàng hóa. Các nhà quản lý danh mục có thể quản lý cổ phiếu hoặc các công cụ đầu tư trái phiếu, và thường thì họ chuyên sâu ở một loại hình tài sản nào đó.
4. Phong cách đầu tư: có thể là phong cách đầu tư phòng vệ, chú trọng vào đầu tư tăng trưởng hoặc đầu tư giá trị, đầu tư vào các cổ phiếu có vốn hóa lớn hoặc nhỏ, đầu tư trong nước hoặc quốc tế.

bạn có 10 triệu nhưng nó là mồ hôi của bạn. 10 triệu của bạn so với người có 10 tỷ nó rất nhỏ. Tuy vậy mất đi 10 triệu cũng giống người ta mất 10 tỷ. Và cách quản lý cũng cần được xem xét. Tới khi bạn có 10 tỷ mới tính tới vụ này thì tôi chắc bạn ko bao giờ có 10 tỷ



Macro - 12/16/2015 9:50:21 AM

46% độ tin cậy
0% Đánh giá rất tốt
0%
0%
#2.3

bác nói vậy thì không nên tham gia diễn đàn làm gì, ngta tổng hợp bài viết và post cho mọi người đọc để có 1 cái plan- có cái gọi là quản trị theo kiểu cá nhân, còn bác muốn quản trị kiểu chợ làng VN thì bác cứ theo kế hoạch cũ.

Đầu tư ngta tính theo % lợi nhuận quý hay năm tùy theo tiêu chí từng người.

% cao thì đầu tư quản lý danh mục tốt.


Các tin khác
Thơ Cá mập đầu tư Chứng khoán (Thứ bảy, 5-12-2015 )

Các tin đã đưa ngày:   

1
Chỉ dẫn
Luật sư
Hỗ trợ trực tuyến


Góc nhỏ cần biết
Liên kết website
TƯ VẤN TRỰC TUYẾN
Hình sự, Hành chính, Đất đai
Dân sự, Hôn nhân và Gia đình
Thuế, Kế toán, Tài chính
QUẢNG CÁO

       

Liên Hệ Quảng Cáo

Công ty TNHH Luật An Phú

Trụ sở: Phòng 315, tầng3, Số nhà 33, ngõ 30, phố Hoa Lâm, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Website: http://anphulaw.com  - Email: luatanphu@gmail.com

(04).62570713 – Fax: 62570715

2009 © Copyright by: Công ty Luật An Phú, inc. All right reserved.