Trụ sở: Phòng 315, tầng3, Số nhà 33, ngõ 30, phố Hoa Lâm, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Danh mục
Địa chỉ liên hệ


VPGD 1: Khu phố Đền Rồng, phường Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh.


VPGD 2: 236 Yết Kiêu, phường Hải Tân, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

      




Mail : luatanphu@gmail.com
Web : http://www.anphulaw.com.


0989 851 169.

0904 226 799.
Thị trường Bất Động Sản
© Đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội:
    a. Người công với cách mạng
    b. Cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng và đoàn thể hưởng lương từ ngân sách nhà nước nước
Thăm dò dư luận
Trong tình hình kinh tế căng thẳng như hiện nay, thu nhập hàng tháng của bạn bị ảnh thưởng như thế nào ?
Giảm sút mạnh
Có giảm đôi chút nhưng không đáng kể
Không bị ảnh hưởng !
Lượt truy cập
001961450
ĐỐI TÁC

Trang chủNghiên cứu & trao đổi
Hoạt động của Luật sư trong tố tụng hình sự, thực trạng và giải pháp
Cập nhật :Thứ bảy, 22-8-2009
             Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực ngày 1-7-2004 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam được xây dựng trên cơ sở kế thừa của Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên năm 1988, quán triệt và thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 2-1 2002 của Bộ chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp đã được pháp luật hóa thành những quy định tương ứng của Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002… Sau khi ra đời, Bộ luậ Tố tụng hình sự năm 2003 đã góp phần rất quan trọng vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới trong những năm vừa qua”.

            Tuy nhiên, do nhiều lý do, trong đó có lý do một số điều luật của Bộ luật , chưa quy định cụ thể nên chưa thể áp dụng ngay vào thực tiễn, mặt khác, các cơ quan ở trung ương lại chưa có văn bản hướng dẫn thi hành, vì vậy, trên thực tế khi Luật sư hành nghề đang gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể thư sau:

            Quyền bào chữa của Bị can, Bị cáo.
           Như chúng ta đã biết mục đích của Tố tụng hình sự là tìm ra chân lý khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó xử lý người phạm tội, mà điều kiện cần thiết để xác định chân lý khách quan của vụ án đó là sự cọ xát giữa những ý kiến khác nhau về vụ án bao gồm những ý kiến buộc tội và những ý kiến gỡ tội (Ý kiến bào chữa). Buộc tội và bào chữa là hai chức năng song song tồn tại ở tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, chỉ có sự song song tồn tại hai chức năng trên thì mới có thể tạo sự tranh tụng giữa các bên. Nếu không thừa nhận hoặc tước bỏ chức năng nào của tố tụng hình sự đều có nghĩa là đi ngược lại mục đích của tố tụng hình sự hoặc làm giảm hiệu quả của tố tụng.

             Pháp luật tố tụng hình sự quy định thủ tục để bị can bị cáo có quyền tự mình hoặc nhờ người khác đưa ra chứng cứ chứng minh là mình không có tội. Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “ Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa”. Đây là một nội dung có ý nghĩa nhân đạo, bởi vì khi một công dân bị cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố với tư cách là bị can, bị truy tố hoặc bị kết án thì họ có quyền bác bỏ sự buộc tội đó, những hành vi bào chữa được thực hiện trong các giai đoạn từ điều tra đến giai đoạn xét xử. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa như một chức năng tố tụng song song với chức năng buộc tội. Tất cả những chứng cứ do người bào chữa đưa ra nếu khách quan và đủ căn cứ chứng minh sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng là không có căn cứ và không hợp pháp thì sẽ làm thay đổi nội dung của vụ án, làm căn cứ để đình chỉ vụ án hay để ra bản án tuyên bố là bị cáo không có tội. Việc quy định quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có ý nghĩ lớn trong việc “không làm oan người vô tội” mọi công dân bị buộc tội oan sai đều có quyền được minh oan, đây là một vấn đề cơ bản trong việc bảo vệ quyền con người.

              Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, Bị can, bị cáo còn là một quyền dân chủ trong tố tụng hình sự. Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo tuy đã bị buộc tội và có thể hạn chế quyền công dân nhưng khi tham gia tố tụng hình sự họ vẫn có quyền năng nhất định để bác bỏ sự buộc tội, hoặc làm nhẹ hơn trách nhiệm hình sự cho mình.

              Quyền dân chủ ở đây được hiểu là: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người bào chữa của họ có thể tham gia hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình tham gia tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa được quyền tìm và đưa ra chứng cứ đối lập với các chứng cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được. Các tài liệu do bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra phải được xem xét, đánh giá trên cơ sở khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp, nghĩa là các tài liệu, đồ vật đó phải là chứng cứ thì mới được sử dụng, chứng cứ do bên gỡ tội đưa ra phải được xem xét, đánh giá cùng với chứng cứ buộc tội.

             Việc quy định và tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Thông thường các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ chú ý đến những chứng cứ buộc tội, vì vậy dễ dẫn đến tình trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn một cách thiếu căn cứ, thậm chí sai đối tượng làm cho hoạt động tố tụng không đạt được mục đích đề ra. Có trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng đã đề cao khía cạnh không để lọt tội phạm hơn khía cạnh không làm oan người vô tội. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này việc quy định thực hiện tốt quyền này của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không những bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn làm cho việc giải quyết vụ án hình sự đúng đắn hơn.
Bộ luật tố tụng hình sự quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo…. Có quyền nhờ người khác bào chữa đã thể hiện quan điểm nhất quán, chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề quyền con người, giúp cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được giải quyết đúng đắn, tránh oan sai. Việc tham gia tố tụng của Người bào chữa (theo Điều 56 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 gồm: Luật sư, Bào chữa viên nhân dân…) là rất cần thiết, bởi vì họ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ vụ án. Mặt khác, người phạm tội thường có trạng thái tâm lý không ổn định, lo ngại số phận của mình hoặc là chưa đủ kiến thức pháp lý để tự mình bào chữa. Việc quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa có ý nghĩa rất lớn vì trong điều kiện cụ thể của nước ta trình độ hiểu biết pháp luật nói chung và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng còn hạn chế. Do đó, việc người am hiểu pháp luật giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ là rất cần thiết.

              Người bào chữa là người tham gia tố tụng hình sự với trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bào chữa có quyền do luật định để làm rõ sự thật của vụ án, phát hiện và làm sáng tỏ các tình tiết để chứng minh người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có tội, hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, đồng thời giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý đảm bảo cho họ thực hiện được những quyền tố tụng, do pháp luật quy định.

               Như vậy, việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không mâu thuẫn với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, ngược lại khi các hành vi bào chữa thực hiện có hiệu quả tức là việc buộc tội oan sai sẽ bị hạn chế tới mức tối đa. Những chứng cứ mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa hay người đại diện hợp pháp của họ đưa ra sẽ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng có đủ cơ sở để xác định tội phạm và người phạm tội, góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng, đúng người, đúng tội.

                Trong thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đa số người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng nhất là quyền bào chữa. Mặc dù theo quy định tại khoản 6 Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định rất cụ thể rằng “Cơ quan điều tra phải giao ngay Quyết định khởi tố bị can của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát và giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can quy định tại Điều 49 của Bộ luật này”. Theo chúng tôi, còn phải giải thích thật cụ thể quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi tham gia tố tụng, việc giải thích đó là bắt buộc và ở đây cũng cần xem xét để có những quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nếu họ có vi phạm (không giải thích hoặc giải thích chiếu lệ).

               Thủ tục tham gia tố tụng của Luật sư.
                Điều 57 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định trong đó thể hiện người bào chữa tham gia tố tụng khi có một trong các điều kiện sau: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc thân nhân của họ mời và được các cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận, cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng Luật sư cử người bào chữa (cho những đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003)… và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận.

               Để được quyền tham gia tố tụng hình sự, Luật sư phải thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận bào chữa nhưng do các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp trung ương chưa có thông tư hướng dẫn về thủ tục nêu trên thực tế ở các địa phương trong các giai đoạn tố tụng khác nhau. Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận bào chữa ở các địa phương, thậm chí ở các cơ quan trong một địa phương cũng rất khác nhau. Có nơi chỉ cần Đơn mời luật sư, Giấy giới thiệu của văn phòng luật sư và thẻ luật sư, chứng chỉ hành nghề luật sư là được cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Có nơi, ngoài bốn loại giấy tờ nêu trên còn yêu cầu nhiều loại giấy tờ khác như : Hợp đồng dịch vụ pháp lý ? Giấy phép thành lập văn phòng luật sư ? Hợp đồng giữa cá nhân luật sư với văn phòng luật sư nếu không phải thành viên sáng lập ? Thậm chí có những bị can, bị cáo cùng một lúc mời nhiều luật sư bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng còn yêu cầu luật sư đến sau gặp bị cáo đề nghị bị cáo viết đơn từ chối việc mời luật sư trước đó ?...vv.. mặc cho luật sư giải thích.

             Để tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa nhanh chóng điều tra viên và giám thị trại giam điều này làm cho bị can không dám phản ánh những vấn đề cần thiết cho người bào chữa. Theo quy định của pháp luật thì luật sư có quyền có mặt trong các hoạt động điều tra khác nếu được Điều tra viên đồng ý như: Lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, đối chất, nhận dạng, khám chỗ ở, địa điểm điều tra, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi thực nghiệm điều tra, giám định….rất có lợi trong quá trình làm rõ sự thật khách quan và giải quyết vụ án, nhưng hầu như luật sư không được thực hiện các quyền này kể cả luật sư cam kết không gây bất cứ trở ngại gì cho hoạt động điều tra. Theo quy định của pháp luật, Luật sư có quyền đưa ra những đề xuất hoặc khiếu nại quyết định hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhưng trên thực tế khi luật sư thực hiện quyền này điều tra viên hầu như không quan tâm không trả lời văn bản cho luật sư biết rõ lý do. Sau khi kết thúc điều tra, hầu như các cơ quan điều tra không thông báo cho người bào chữa biết rõ việc kết thúc điều tra, vì vậy việc đọc hồ sơ, ghi chép những điều cần thiết để có những đề xuất, khiếu nại không thể thực hiện được.

              Chúng tôi cho rằng bên cạnh BLTTHS năm 2003 quy định cho luật sư những quyền hạn, nghĩa vụ , còn có các văn bản pháp luật khác quy định quyền hạn trách nhiệm của Luật sư như Luật Luật sư năm 2006, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004..đã thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của luật sư, nhưng về mặt ý chí chủ quan các điều tra viên vì nhiều lý do khác nhau các điều tra viên đã tước bỏ quyền của luật sư, hoặc dựa vào các quyết định chưa rõ ràng trong BLTTHS để gây khó khăn cho luật sư thực hiện các quyền của mình, vì vậy chúng tôi cho rằng phải có những quy định rõ hơn nữa quyền của luật sư, có như vậy mới đảm bảo khách quan, công bằng.

              Tham gia tố tụng, khoản 4 Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định : Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án phải xem xét cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận bào chữa thì phải nêu rõ lý do. Tuy nhiên, trên thực tế quy định này hầu như không thể thực hiện được. Có những vụ án mà người bị truy tố không phải về tội xâm phạm an ninh quốc gia theo Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng sau nhiều tháng vẫn không được cơ quan điều tra cấp giấy chứng nhận bào chữa, khi khiếu nại nhiều lần họ chỉ trả lời bằng miệng là “Chưa xin được cấp trên cho luật sư tham gia tố tụng hoặc là không trả lời bằng văn bản vì lý do sao không cấp?”.

            Như vậy, để tạo thuận lợi cho luật sư thực hiện quyền của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phối hợp với các ban nghành liên quan, Đoàn luật sư họp bàn để có văn bản áp dụng thống nhất, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, cố tình vi phạm pháp luật.
Hoạt động của luật sư trong giai đoạn điều tra.

            Theo quy định tại Điều 58 BLTTHS năm 2003: “Người bào chữa có quyền có mặt lấy lời khai của người bị tạm giữ khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong các hoạt động điều tra khác”. Trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau không rõ ràng các điều tra viên rất ít khi cho luật sư thực hiện quyền này, bởi kể cả khi luật sư đã được cấp giấy chứng nhận bào chữa thì luật sư cũng không được điều tra viên cho biết thời gian điều tra viên hỏi cung bị can “lịch làm việc”. Việc gặp bị can đang bị tạm giam cũng rất khó khăn. Nếu người bào chữa có được gặp họ thì phải chịu sự giám sát trực tiếp của điều tra viên.

            Hoạt động của luật sư trong giai đoạn hồ sơ vụ án chuyển đến Viện kiểm sát.
Khi hồ sơ đã được chuyển đến VKS, luật sư có quyền đưa ra những chứng cứ, mà những chứng cứ này và yêu cầu này do chính luật sư đó đề xuất với cơ quan điều tra nhưng không được chấp nhận hoặc đã chấp nhận nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ. Trong giai đoạn này luật sư phải sử dụng triệt để các quy định của pháp luật để khắc phục những bất cập ở giai đoạn điều tra như phân tích ở trên. Tuy nhiên các luật sư cũng phải biết một thực trạng rằng, trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử mặc dù trong nhiều trường hợp hồ sơ vụ án không đầy đủ (đặc biệt là các tội phạm về ma túy) nhưng cơ quan điều tra vẫn ra quyết định điều tra, vẫn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, vẫn ra cáo trạng và xét xử. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn không đúng quy định của pháp luật hoặc oan sai, vì vậy luật sư cần nắm vững quy định của pháp luật, tự mình thu thập các tài liệu chứng cứ chứng minh bằng chứng ngoại phạm hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn chưa đúng quy định của pháp luật sẽ rất hữu hiệu trong quá trình bảo vệ thân chủ.

            Một vấn đề cần lưu tâm là trong việc đề xuất thay đổi biện pháp ngăn chặn nẹ hơn không được tại ngoại đối với bị can, bị cáo trong một vụ đồng phạm thường rất khó khăn, mặc dù có đủ căn cứ theo luật để được tại ngoại, nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng thường đưa ra nhiều lý do không chính dáng để từ chối sự đề nghị của gia đình và luật sư như: so sánh vai trò giữa các bị can, bị cáo, hoặc cho rằng bị can, bị cáo đó sẽ gây khó khăn trở ngại cho hoạt động điều tra, giải quyết vụ án….Thậm chí họ chẳng quan tâm đến đề xuất, khiếu nại của luật sư hoặc không trả lời bằng văn bản.
Vì vậy, cần phải có văn bản hướng dẫn quy định cụ thể hơn nữa thể hiện nếu có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì đề nghị của luật sư và gia đình phải được chấp nhận.

           Hoạt động của luật sư trong giai đoạn hồ sơ vụ án chuyển sang tòa án và xét xử.
           Đây là giai đoạn quan trọng nhất, vì nó quyết định số phận của bị cáo, chính vì vậy, ở giai đoạn này luật sư cần tập trung mọi khả năng để thự hiện chức năng bào chữa của mình. Theo quy định của pháp luật, luật sư có quyền đưa ra các chứng cứ, những yêu cầu với cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy luật trao cho luật sư quyền như vậy, nhưng lại không quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, phải xem xét, giải quyết yêu cầu kiến nghị của luật sư bằng văn bản, dẫn đến việc đề xuất kiến nghị của luật sư không được quan tâm xem xét, do vậy luật sư không thực hiện đầy đủ quyền của mình, còn các cơ quan tiến hành tố tụng sa đà vào những chứng cứ buộc tội nên dẫn đến oan sai.

            Trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa cũng rất quan trọng, nhưng trên thự tế luật sư cũng bị hạn chế quyền này. Điều này được thể hiện ở việc khi có những vấn đề hội đồng xét xử, kiểm sát viên hỏi nhưng chưa làm rõ vấn đề, khi luật sư hỏi lại thường bị hội đồng xét xử tước bỏ quyền này với lý do : hỏi rồi không hỏi lại.

              Trong quá trình xét xử, việc tranh luận tại phiên tòa là rất quan trọng, trên cơ sở đó kiểm tra giá trị chứng minh các tài liệu buộc tội, gỡ tội, giúp cho quá trình giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đúng pháp luật. Nhưng trên thực tế có nhiều vị đại diện viện kiểm sát để bảo vệ cáo trạng của mình không thực hiện quyền và nghĩa vụ này, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận. Tuy nhiên, luật tố tụng quy định là: Chủ tọa có quyền yêu cầu kiểm sát viên đáp lại, nên khi Chủ tọa phiên tòa không thực hiện quyền này dẫn đến luật sư cũng không thực hiện được quyền này. Theo chúng tôi, luật tố tụng hình sự nên sửa theo hướng buộc kiểm sát viên phải đáp lại những quan điểm, ý kiến của luật sư, bởi đây là trách nhiệm của kiểm sát viên, trong trường hợp không đáp lại được những ý kiến, quan điểm của luật sư phải chấp nhận yêu cầu ý kiến của luật sư, bởi theo quy định của luật tố tụng hình sự thì trong trường hợp những tài liệu chứng cứ không đủ cơ sở pháp luật để buộc tội thì phải áp dụng có lợi cho bị cáo.

             Thời điểm chấm dứt tham gia tố tụng của người bào chữa.
             Như phần trên đã nêu thời điểm bắt đầu tham gia của người bào chữa từ khi có quyết định tạm giữ, có quyết định khởi tố bị can, chứ không quy định được tham gia đến giai đoạn nào, được thể hiện như sau:
            - Theo Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can.
            - Khi xét xử sơ thẩm Điều 190 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “người bào chữa … được triệu tập tham gia phiên tòa”.
            - Khi xét xử phúc thẩm Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “người bào chữa …được triệu tập tham gia phiên tòa”.
             - Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Khi xét thấy cần thiết,tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa… tham gia phiên tòa giám đốc thẩm”.

           Với những nội dung, điều luật viện dẫn ở trên thì người bào chữa có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng trong vụ án cho đến lúc bản án về vụ án đã có hiệu lực pháp luật, không còn kháng cáo kháng nghị, hoặc xét xử tiếp theo ở cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm. Khi tòa án cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm chuẩn bị xét xử thì có thể tòa án sẽ triệu tập người bào chữa đã tham gia phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Nhưng trên thực tế các luật sư không được hưởng các quyền để được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can tại cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án, xét xử sơ thẩm, tòa án xét xử phúc thẩm và giai đoạn giám đốc thẩm. Cứ qua mỗi giai đoạn thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng tiếp theo, luật sư phải làm lại các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận bào chữa từ đầu (mặc dù khách hàng không có đơn từ chối mời luật sư và văn phòng chưa có văn bản thông báo về việc hết trách nhiệm tham gia tố tụng) điều này gây khó khăn, phiền toái cho luật sư. Từ việc áp dụng cứng nhắc, khuôn mẫu của các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến trường hợp là sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm theo yêu cầu của nhiều bị cáo người bào chữa muốn vào trại giam gặp riêng bị cáo để giúp đỡ về mặt pháp lý cho bị cáo nhưng lại có sự cản trở rằng người bào chữa đã hết trách nhiệm bào chữa nên không có quyền gặp bị cáo… Từ việc này đã dẫn đến một số hậu quả nghiêm trọng là bị can, bị cáo bị tước mất quyền của mình.

             Để khắc phục những thiếu sót, sai lầm trên cần có thông tư liên tịch của các ban ngành liên quan quy định cụ thể về vấn đề này. Mặt khác cần phải quy định rõ trách nhiệm của những người có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bào chữa trong việc cố tình thực hiện hành vi cản trở người bị tạm giữ,bị can, bị cáo , người bào chữa thực hiện các quyền của mình.

              Như vậy Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tuy đã có những quy định mới tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của luật sư khi tham gia vào các vụ án hình sự, nhưng trên thực tế một mặt các quy định của pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định cụ thể, rõ ràng,chưa quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng nên luật sư đang gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hành nghề của mình. Để khắc phục những thiếu sót, sai phạm nêu trên tới đây, đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp với các tổ chức luật sư toàn quốc và các ban nghành liên quan hội thảo, ra văn bản hướng dẫn thi hành để luật sư thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được thuận lợi nhất.

                       
Tác giả: Luật sư Nguyễn Viết Xuân – Công ty Luật Hợp Danh An Phú
                         (Tạp chí LUẬT SƯ NGÀY NAY Chuyên đề tháng 11 + 12 năm 2007)

Các tin khác

Các tin đã đưa ngày:   

Chỉ dẫn
Luật sư
Hỗ trợ trực tuyến


Góc nhỏ cần biết
Liên kết website
TƯ VẤN TRỰC TUYẾN
Hình sự, Hành chính, Đất đai
Dân sự, Hôn nhân và Gia đình
Thuế, Kế toán, Tài chính
QUẢNG CÁO

       

Liên Hệ Quảng Cáo

Công ty TNHH Luật An Phú

Trụ sở: Phòng 315, tầng3, Số nhà 33, ngõ 30, phố Hoa Lâm, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Website: http://anphulaw.com  - Email: luatanphu@gmail.com

(04).62570713 – Fax: 62570715

2009 © Copyright by: Công ty Luật An Phú, inc. All right reserved.